Chủ nhật  18-11-2018    01:55 AM
Các loại dịch vụ
Các đối tác
Hỗ trợ trực tuyến

Mr Nhi
My status
Mr Nhi
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập : 320359
Online : 1
Liên kết website
TIN TỨC

Ý kiến của Luật sư Ngô Hữu Nhị về Bản án sơ thẩm số 11/2012/HSST ngày 09/03/2012 của Toà Án Nhân Dân Tỉnh Sóc Trăng và Kháng nghị phúc thẩm số 230/QĐ-VKSTC-VP3 ngày 06/04/2012 của Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao

Ý kiến Luật sư Ngô Hữu Nhị

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 01 tháng 10 năm 2012


Ý KIẾN CỦA LUẬT SƯ VỀ


+ BẢN ÁN SƠ THẨM CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
(Bản án Sơ thẩm số 11/2012/HSST ngày 09/03/2012)
+ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM
(Của Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao số 230/QĐ-VKSTC-VP3 ngày 06/04/2012 về Bản án Sơ Thẩm số 11/2012/HSST ngày 09/03/2012 của Toà An Nhân Dân Tỉnh Sóc Trăng)

Kính gửi:  + Chánh An Tòa An Nhân Dân Tối Cao
  + Viện Trưởng Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao


Tôi là luật sư NGÔ HỮU NHỊ, thuộc Đoàn Luật Sư Thành Phố Hồ Chí Minh, công tác tại Văn Phòng Luật Sư Thiên An, do yêu cầu của bị cáo Hùynh Ngọc Bích người đã kháng cáo kêu oan Bản án Sơ thẩm (số 11/2012/HSST ngày 09/03/2012) của Toà An Nhân Dân Tỉnh Sóc Trăng và bị Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao ra Kháng nghị phúc thẩm số 230/QĐ-VKSTC-VPT3 ngày 06/04/2012 để xử tăng hình phạt tù đối với bị cáo Bích; Và tôi, được sự chấp thuận của Tòa Phúc Thẩm Toà An Nhân Dân Tối Cao tại TP. Hồ Chí Minh, Phó Chánh án tòa án đã cấp Giấy chứng nhận người bào chữa số 405/2012/HS-GCNNBC ngày 14 tháng 06 năm 2012, cho nên tôi có ý kiến về vụ án này như sau:

Tôi, là luật sư tham gia tố tụng trong vụ án này ngay từ khi khởi tố bị can Hùynh Ngọc Bích. Tôi xin trình bày đến các cơ quan tố tụng những căn cứ pháp lý hết sức thận trọng để các cơ quan tố tụng có thể trả lại công bằng và công lý cho bị cáo Hùynh Ngọc Bích nói riêng và cho HTX Ngọc Bích nói chung.

Trước đây trong Phiên toà Sơ thẩm ngày 27 tháng 02 năm 2012, tôi đã trình bày trước HĐXX việc vi phạm tố tụng nghiêm trọng của các cán bộ của Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra Công An Tỉnh Sóc Trăng và Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Sóc Trăng, nhưng tất cả các vi phạm tố tụng nghiêm trọng đó, HĐXX tại phiên Tòa Sơ thẩm đã không thẩm tra và xem xét đến. Hôn nay trong bản ý kiến này, ngoài việc tôi trình bày lại việc vi phạm tố tụng của các cán bộ của hai cơ quan tố tụng nêu trên, tôi còn trình bày thêm các sai phạm nghiêm trọng trong Bản án Sơ thẩm nêu trên của HĐXX tại phiên toà Sơ Thẩm ngày 27/02/2012 của vụ án này.

I. Các vấn đề sai phạm trong nội dung Bản án Sơ thẩm số 11/2012 HSST ngày 27/02/2012 của Toà An Nhân Dân Tỉnh Sóc Trăng:

1. Bản án Sơ thẩm đã nhận định hoàn toàn không khách quan, không đúng, không tôn trọng sự thật của vụ án, thậm chí lại còn áp dụng sai luật.
1.1 Việc kết án bị cáo Huỳnh Ngọc Bích với tội danh “Tham ô tài sản” và tuyên xứ phạt 06 tháng tù (sáu tháng tù) nhưng cho hưởng án treo là hoàn toàn gây oan sai cho bị cáo Bích nói riêng và cho Hợp Tác Xã Tiểu Thủ Công Nghiệp Ngọc Bích với hơn 8.000 lao động nghèo nói chung.
1.2 Sự thật của vụ án là việc Trung Tâm Khuyến Công Tỉnh Sóc Trăng chủ động đến với HTX TTCN Ngọc Bích thảo luận về việc ký kết 06 (sáu) Hợp đồng dạy nghề cho bà con lao động nghèo có tay nghề để có thể lao động tại các hợp tác xã. HTX Ngọc Bích đã ký kết 6 Hợp đồng nêu trên và đã triển khai day học đầy đủ. Về phía Trung Tâm Khuyến Công khi lập hồ sơ sổ sách để quyết toán với các Cơ quan chức năng, do không nắm vững về thủ tục nên các cán bộ của Trung Tâm Khuyến Công đã có những sai phạm trong việc lập hồ sơ chúng từ và đã bị tranh tra, sau đó bị truy tố về tội danh “Tham ô tài sản”. Như vậy việc làm sai trái của các cán bộ Trung Tâm Khuyến Công thì các cán bộ đó phải chịu trách nhiệm, nhưng không hiểu vì sao bị cáo Bích lại bị truy tố và bị tuyên phạt 06 tháng tù (sáu tháng tù) nhưng cho hưởng án treo trong khi các giao dịch của bị cáo Bích với Trung Tâm Khuyến Công là một giao dịch dân sự. 
1.3 Trong bản án sơ thẩm có nhận định bị cáo Bích là “một đồng phạm tích cực và có hành vi giúp sức vào tạo điều kiện cho cán bộ Trung Tâm Khuyến Công trong 5 hợp đồng” (dòng 7 trang 33 của Bản án sơ thẩm) là hoàn toán quy chụp. Trên thực tế bị cáo Bích có thực hiện đầy đủ các Hợp đồng nêu trên, trong 06 lần xét xử các giáo viên và học viên đã khẳng định có dạy và có học đầy đủ, nhưng HĐXX vẫp áp đạt một cách trắng trợn là HTX của bà Bích không có dạy.
1.4 Tại dòng 27 trang 33 của Bản án có nhận định:” …bị cáo không thực hiện đầy đủ như các hợp đồng đã ký mà chỉ có 3 ngày, đáng lẽ bị cáo không được nhận hoặc nhận ít hơn vì các hợp đồng chỉ thực hiện một phần. Về nhận thức thì bị cáo biết rõ các hợp đồng trên chưa thực hiện đầy đủ các quy định về thời gian giảng dạy trong hợp đồng là vi phạm hợp đồng…”.Nhận định của Bản án hoàn toàn không đúng với sự thật khách quan của vụ án. Trên thực tế có 04 Hợp đồng được tổ chức tại Xã Gia Hoà 2 (HĐ số 03. HĐ.KC.07; HĐ số 05. HĐ. KC. 07; HĐ số 04HĐ. KC. 07 và HĐ số 06 HĐ. KC 07) trong ngày khai giảng 02/04/2007 (có sự tham dự của các cán bộ Trung Tâm Khuyến Công và các quan chức địa phương) có triển khai dạy từ 03 đến 04 ngày sau đó triển khai về các điểm của HTX để tiếp tục dạy. Như vậy việc HTX của bi cáo Bích có dạy đầy đủ thì làm sao mà quy kết bị cáo Bích tội “tham ô tài sản?” Giả sử cho rằng bị cáo Bích không dạy hoặc dạy không đầy đủ đầy đủ thì bị cáo bích chỉ có vi phạm Hợp đồng mà vi phạm hợp đồng thì làm sao mà có tội?
1.5 Tại dòng 32 trang 33 của Bản án có nhận định: “Ngoài hành vi giúp sức trên, bị cáo còn đồng tình đóng dấu treo Hợp tác xã Ngọc Bích lên 04 phiếu thu chưa ghi rõ nội dung giúp Trung Tâm Khuyến Công Tỉnh Sóc Trăng thanh toán khống số tiền thuê dụng cụ 6.000.000 đồng” Nhận định này hoàn toàn mang tính quy chụp. Trong thực tế, sau khi thực hiện xong các hợp đồng, cán bộ Trung Tâm Khuyến Công đến lập chứng từ thanh lý và đã đề nghị HTX Ngọc Bích đđóng dấu treo vào các phiếu thu của Trung Tâm Khuyến Công đưa, bị cáo Bích có đóng dấu vào các phiếu thu đó cho cán bộ Trung Tâm Khuyến Công, nhưng cán Bộ Trung Tâm Khuyến Công đó đã sử sai mục đích thì đó là trách nhiệm của Trung Tâm Khuyến Công. Hơn nữa các phiếu thu này không có chữa ký của bị cáo Bích cho nên nó hoàn toàn không có giá trị pháp lý?  
1.6 Tại dòng 34 trang 34 và dòng 1 trang 35 của Bản án có nhận định: “Xét thấy, trong quá trình điều tra thì các bản khai của bị cáo luật sư Nhị tham gia và các biên bản đối chất với các bị cáo khác thì luật sư Nhị có tham gia như biên bản đối chất với bị cáo Vương ngày 17/05/2010 điều tra viên là Nguyễn tấn Vinh cho thấy là bị cáo Bích và bị cáo Vương có đọc lại …”. Nhận định này là hoàn toàn bịa đặt cho tôi, Luật Sư Ngô Hữu Nhị (người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Bích), tôi chỉ được Cơ Quan Điều Tra Công An Tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận Người bào chữa vào ngày 14/06/2010 thì làm sao tôi có mặt tại buổi đối chất ngày 17/05/2010?. Hơn nữa bị cáo Bích bắt đầu bị Khởi tố vào ngày 28/05/2010, thì biên bản đối chất ngày 17/05/2010 nêu trên có giá trị pháp lý không?
1.7 Tại dòng 10 trang 35 của Bản án có nhận định: “Xét thấy, bị cáo cũng nhận thức được cung cấp phiếu thu đóng dấu treo cho Trung Tâm Khuyến Công là chưa đúng sự hướng dẫn của Thông tư số 89 ngày 30/12/2002 của Bộ Tài Chính về việc quản lý, in ấn, phát hành, sử dụng hoá đơn…” Tôi khẳng định là không có Thông tư số 89 ngày 30/12/2002 của Bộ Tài Chính nêu trên, như vậy Hội Đồng Xét Xử tại phiên toà này đã áp dụng sai luật và cũng không thể phân biệt được thế nào là hoá đơn tài chính và thế nào là phiếu thu và phiếu chi trong hoạt động kế toán.
Vào năm 2002, Bộ Tài Chính chỉ có ban hành một Thông tư duy nhất là Thông tư 89/2002/TT-BTC hướng dẫn kế toán thực hiện bốn (04) chuẩn mực về kế toán ban hành theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/01/2001 của Bộ Trưởng Bộ Tài Chính và Thông tư 89 này đã hết hiệu lực vào ngày 02/02/2008. Do đó các sai phạm trong việc lập các chứng từ, hồ sơ sổ sách hoàn toàn thuộc về Trung Tâm Khuiyến Công. Bị cáo Bích hoàn toàn không có sai phạm gì trong việc cung cấp các Phiếu thu cho Trunbg Tâm Khuyến Công vì lẽ đương nhiên khi thực hiện xong Hợp đồng và được TTKC chấp nhận thanh lý, thì HTX Ngọc Bích sẽ phải xuất hoá đơn đỏ để thanh toán; nhưng vấn đề ở đây các cán bộ chưa yêu cầu xuất hoá đơn đỏ mà chỉ yêu cầu HTX Ngọc Bích tạm xuất các phiếu thu để ghi nhận việc thanh lý Hợp đồng. Trong việc xin các phiếu thu của HTX Ngọc Bích, ban đầu các cán bộ chỉ xin 06 Phiếu thu để tự ghi cho 06 Hợp đồng, nhưng các cán bộ TTKC nói là đã làm sai Phiếu thu nên đến HTX Ngọc Bích xin thêm 04 Phiếu thu nữa và các cán bộ TTKC sử dụng 04 Phiếu thu này để làm hồ sơ thanh toán cho các hồ sơ khác là trách nhiệm của các cán bộ TTKC. Hơn nữa các Phiếu thu này hoàn toàn không có giá trị pháp lý, cũng không có giá trị thanh toán. Chỉ có hoá đơn đỏ mới có giá trị thanh toán. Trong vụ án này HTX Ngọc Bích hoàn toàn không cung cấp cho TTKC bất kỳ mộ hoá đơn đỏ nào. Điều sai lầm ở đây là HĐXX Phiên toà Sơ thẩm đã không phân biệt được thế nào là hoá đơn và thế nào là Phiếu thu Phiếu chi trong kế toán.
Vậy hoá đơn là gì? Theo Nghị định 89/2002/NĐ-CP ngày 07/11/2002 tại Khoản 1, Điều 3 quy định “Hoá đơn là chứng từ được in sẵn thành mẫu, in từ máy tính tiền, in thành vé có mệnh giá theo quy định của nhà nước, xác nhận khối lượng, giá trị của hàng hoá, dịch vụ mua, bán, trao đổi, quyền lợi và nghĩa vụ của bên tham gia giao dịch mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ”. Khoản 8 của Điều 3 này quy định”Hoá đơn không là hoá đơn đã được lập nhưng nội dung giao dịch là không có thực”. Có mấy loại hoá đơn? Tại Khoản 1 Điều 2 của Nghị định này quy định có các loại hoá đơn như sau: “a- Hoá đơn giá trị gia tăng, b- Hoá đơn bán hàng, c- Hoá đơn thu mua hàng d- Các loại hoá đơn khác Một lần nữa tôi khẳng định với HĐXX là Bị cáo Bích hoàn toàn không cung cấp cho TTKC bất kỳ một tờ hoá đơn nào.
Vậy Phiếu thu Phiếu chi là gì? Trong luật không có một định nghĩa nào cho Phiếu thu Phiếu chi, nó chỉ được hiểu đơn thuần là một loại chứng từ ghi nhận hoặc là một loại biên nhận mà thôi. Nó hoàn tòan không có giá trị thanh toán.
Việc hiểu sai giữa hoá đơn và phiếu thu theo Nghị định nêu trên không những gây oan sai cho Bị cáo Bích mà còn cho các bị cáo khác trong cả vụ án này. Từ các cán bộ Cơ Quan CSĐT, đến các cán bộ Viện KSND và HĐXX Toà An Nhân Dân Tỉnh Sóc Trăng trong vụ án này cũng không thể phân biệt nổi thế nào là hoá đơn và thế nào là Phiếu thu Phiếu chi trong hoạt động kế toán, thậm chí kể cả Kháng Nghị Phúc Thẩm của Viện Trưởng VKS Nhân Dân Tối Cao cũng nhận định là Bị cáo “Huỳnh Ngọc Bích tham gia lập chứng từ thanh toán khống, số tiền là 57.070.000 đồng” (theo Kháng Nghi Phúc Thẩm dòng 28 trang 2 Kháng Nghị Phúc Thẩm). Một lần nữa tôi khẳng định với Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao là bị cáo Bích hoàn toàn không tham gia lập chứng từ khống, số tiền là 57.070.000 đồng, nếu Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao tại Phiên toà Phúc Thẩm này vẫn bảo lưu quan điểm tăng hình phạt tù đối với bị cáo Bích, đề nghị Đại diện VKS Nhân Dân Tối Cao trưng các chứng từ, hoá đơn khống mà bị cáo Bích đã ký để giúp TTKC lấy tiền nhà nước? Nếu Vị Đại diện VKS Nhân Dân Tối Cao không trưng ra được bất kỳ chứng từ nào mà tôi vừa nêu thì đề nghị Đại diện VKS Nhân Dân Tối Cao rút kháng nghị tăng nặng hình phạt ngay đối với bị cáo Huỳnh Ngọc Bích.

Đó là các sai phạm trong nội dung của Bản án tại Phiên toà Sơ thẩm nêu trên. Tiếp theo, tôi xin trình bày việc vi phạm nghiêm trong tố tụng của các cán bộ trong hai cơ quan tố tụng cụ thể là cán bộ của Cơ quan Cảnh Sát Điều Tra Công An Tỉnh Sóc Trăng và cán bộ của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Sóc Trăng mà Bản án Sơ thẩm không hề đề cập đến như sau:

2. Vi phạm tố tụng của Kiểm Sát Viên Phan Văn Tùng và của Phó Viện trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Sóc Trăng Đinh Gia Hưng như sau:
Theo Đơn khiếu nại của bị cáo Hùynh Ngọc Bích ngày 07/06/2010 về việc thay đổi Kiển Sát Viên Phan Văn Tùng cho thấy: hành vi lấy lời khai của KSV Tùng đối với bị can Bích đã sai phạm Điều 5 của Pháp Lệnh Tổ Chức Điều Tra Hình Sự. Theo Điều 5 này thì chỉ có Cơ quan điều tra …mới được tiến hành điều tra các vụ án hình sự. Mọi họat động điều tra phải tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh này. Tiếp theo hành vi lấy lời khai trên là hành vi làm bị cáo Bích ngất xỉu ngay tại Cơ quan điều tra cho thấy KSV Tùng đã vi phạm vào Điều 131, Khỏan 4 trong việc hỏi cung bị can và cũng có dấu hiệu vi phạm Điều 299 Tội bức cung của Bộ luật hình sư. Sau đó bị cáo Bích đã có Đơn khiếu nại đến Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Sóc Trăng vào ngày 07/06/2010 (Bút lục 1194) và đã được Phó viện Trưởng VKS ND Tỉnh Sóc Trăng Đinh Gia Hưng thông báo từ chối thay đổi KSV trong thư Thông báo ngày 21/06/2010 (Bút lục 1193). Việc Phó viện Trưởng trả lời đơn khiếu nại của bị can Bích là hòan tòan vi phạm vào Điều 330 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều này quy định về Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng và Viện trưởng Viện kiểm sát như sau: Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên do Viện Trưởng Viện kiểm sát giải quyết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận đượckhiếu nại. Như vậy sau 14 ngày đồng thời với việc trả lời khiếu nại của Phó Viện trưởng VKS Đinh Gia Hưng là hòan tòan vi phạm tố tụng.

Hơn nữa tại phiên xử lần đầu ngày 25/11/2010, sau phần khi mạc phiên toà, bị cáo Huỳnh Ngọc Bích và tôi đã đề nghị thay đổi Kiểm sát viên Phan Văn Tùng, đề nghị này đã được HĐXX chấp thuận, nên phiên xử ngày 25/11/2010 đã phải hoãn lại. Việc HĐXX thay đổi Kiểm sát viên Phan Thanh Tùng chứng tỏ sự sai phạm nghiêm trọng tố tụng về phía Viện Kiểm Sát.

3. Vi phạm tố tụng của Điều Tra Viên Nguyễn Văn Giang và của Phó Thủ Trưởng Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra – Công An Tỉnh Sóc Trăng Đại tá Võ Minh Đức như sau:
3.1 Đối với luật sư: Có hành vi ngăn cản quyền của Người bào chữa cụ thể như sau: Tôi là luật sư người mà bị cáo Hùynh Ngọc Bích có làm Đơn yêu cầu luật sư bào chữa cho bị can Bích ngay từ giai đọan khởi tố bị can, có đến CQCSĐT cùng với bị cáo Bích vào ngày 01/06/2010 để làm thủ tục bào chữa cho bị can Bích. Sau khi tiếp nhận hồ sơ của tôi ĐTV Nguyễn Văn Giang đã định từ chối nhận hồ sơ của tôi, tôi hỏi lý do từ chối ĐTV Giang không thể trả lời được và nhận hồ sơ rồi mời tôi ra về. Sau đó đến chiều ngày 03/06/2010 lúc khỏang 14:30 bằng một cuộc điện thọai mang số 091 861 5368 của ĐTV Giang từ chối thẳng thừng hồ sơ cấp Giấy chứng nhận NBC của tôi mà không nêu lý do. Do đó đến ngày 05/06/2010 tức là sau 05 ngày tôi vẫn chưa nhận được Giấy chứng nhận NBC, tôi có làm đơn khiếu nại đến Thủ trưởng CQCSĐT và Viện trưởng VKS ND Tỉnh Sóc Trăng. Đến ngày 11/06/2010 (thứ sáu) theo dấu Bưu Điện Chợ Lớn thì tôi có nhận được Thư trả lời của VKS ND Tỉnh Sóc Trăng, bằng thư trả lời này sáng ngày 14/06/2010 (thứ hai) tôi đến CQCSĐT để lập lại thử tục xin cấp GCNNBC cho bị can Bích, lúc đó thì CQCSĐT mới chịu cấp Giấy CNNBC cho tôi. Như vậy là sau 14 ngày tôi mới được cấp Giấy CNNBC, như vậy CQCSĐT Tỉnh Sóc Trăng có vi phạm tố tụng hay không? Để hợp thức hóa cho việc vi phạm nghiêm trọng tố tụng này, theo dấu Bưu Chính TP Sóc Trăng ngày 09/06/2010 Cơ QCSĐT ra Thông báo ghi ngày 04/06/2010 về việc từ chối cấp Giấy CNNBC cho tôi. Hành vi này cho thấy Phó Thủ trưởng CQCSĐT Tỉnh Sóc Trăng Võ Minh Đức không những vi phạm nghiêm trọng tố tụng hình sự mà còn gian dối dùng thủ thuật để che đậy hành vi vi phạm tố tụng này. Như vậy rõ ràng là CQCSĐT Tỉnh Sóc Trăng đã vi phạm vào Điều 56 của Bộ luật tố tụng hình sự. Theo quy định Khỏan 4 của Điều này thì Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa. Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu lý do.

3.2 Đối với bị cáo Hùynh Ngọc Bích:
3.2.1 Qua việc lấy lời khai của Bị can Hùynh Ngọc Bích và việc lập các biên bản đối chất giữa các bị can Bích với bị can Nguyễn Thế Vương, ĐTV Nguyễn Văn Giang đã ghi không đúng, không chính xác nên trong các Biên bản hỏi cung bị can và biên bản đối chất với sự có mặt của tôi thì có sự điều chỉnh lại rất nhiều về lời khai của bị can Bích và của bị can Vương (Biên bản hỏi cung bị can lúc 13:50 ngày 14/06/2010 – Bút lục 1236: Biên bản hỏi cung bị can lúc 7:40 ngày 15/06/2010 – Bút lục 1238 – 1239; Biên bản đối chất lúc 14:05 ngày 15/06/2010 – Bút lục 1347 – 1348) và đặc biệt nghiêm trong là CQCSĐT đã hòan tòan tiêu hủy Bản tường trình của bị can Bích dài gần 07 trang ghi ngày 16/06/2010, trong bản tường trình này bi can Bích đã tường trình các hành vi ép cung của ĐTV Giang và hành vi lấy lời khai của KSV Tùng khiến bị can Bích xỉi tại CQCSĐT. Để chứng minh cho có sự hiện hữu của Biên bản ghi lời khai này, trong Đơn đề nghị thay đổi Điều tra viên  của tôi gửi cho Thủ trưởng CQCSĐT lần một vào ngày 17/06/2010 và gửi cho Thủ trưởng CQCSĐT lần 02 và đồng gửi đến Viện Trưởng VKSND Tỉnh Sóc Trăng ngày 26/06/2010 tôi có mô tả về Bản tường tình này. Việc tiêu hủy Bản tường trình này ĐTV Giang đã có dấu hiệu làm sai lệch hồ sơ vụ án, vi phạm vào Điều 300 Bộ luật hình sự.
3.2.2 Sau các buổi lập Biên bản hỏi cung bi can và lập Biên bản đối chất nêu trên của ĐTV Giang, tôi và bị cáo Bích đều nộp Đơn đề nghị thay đổi điều tra viên đến Thủ trưởng CQCSĐT, và cả hai lá đơn này đều được Phó Thủ trưởng CQCSĐT Võ Minh Đức trả lời. Việc trả lời khiếu nại của Phó Thủ trưởng CQCSĐT Võ Minh Đức là hòan tòan vi phạm tố tụng vì đã vi phạm vào Điều 329 về thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
3.2.3 Hầu như tất cả các Biên bản trong hồ sơ của vụ án là những tờ giấy đôi có 04 trang, nhưng không hiểu vì sao nó lại bị rọc xé ra làm hai hòan tòan. Vậy mục đích của việc rọc xé này là để làm gì? Tạo sao mỗi bút lục trong hồ sơ của vụ án lại có đến 03 số bút lục? Tại sao bút lục không có tính liên tục từ giai đọan Điều tra, Viện Kiểm sát và Tòa án? Mục đích của việc xáo trộn hồ sơ này là để làm gì?
+ Tòan bộ lời khai của Nguyễn Quách Hồng Quyên tôi không thấy có trong hồ sơ vụ sán.
 
4 Về thủ tục tố tụng trong giai đoạn Điều tra bổ sung
4.1 Việc 2 ĐTV Nguyễn Văn Giang và Nguyễn Tấn Vinh tiếp tục lấy lời khai của các nhân chứng và những người có nghĩa vụ liên quan là không khách quan vì tại Phiên toà ngày 14/01/2011, HĐXX đã phải tuyên bố hoãn phiên toà để Điều tra bổ sung với 03 lý do chính trong đó có một lý do là: tất cả các bị cáo và một số nhân chứng và người có nghĩa vụ liên quan đều khai rằng các điều tra viên đã ép cung, mớm cung và dụ cung.
4.2 Tôi đã không tìm thấy các Quyết định bổ nhiệm các ĐTV Trần Thanh Giảng, Lê Văn Hưng, Nguyễn Hồng Thái và Cao Văn Tươi trong hồ sơ vụ án.
4.3 Trong giai đoạn Điều tra bổ sung, Viện Kiểm Sát đã vi phạm Điều 326 (Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại) và điều 328 (Thời hiệu khiếu nại) của Bộ luật Tố Tụng Hình Sự, cụ thể như sau:
+ Sau khi nhận bản Kết luận điều tra vụ án bổ sung, chiều ngày 25/03/2011, tôi và bị cáo Bích đều làm Đơn khiếu nại đến các Cơ quan tố tụng như Cơ quan CSĐT và VKS, về bản Kết luận điều tra vụ án bổ sung này nhưng vẫn không có Cơ quan tố tụng nào trả lời các khiếu nại của tôi và của bị cáo Bích.
+ Việc chiều ngày thứ sáu 25/03/2011, tôi và bị cáo Bích nhận bản Kết luận điều tra vụ án bổ sung tại Cơ quan CSĐT, sáng thứ bảy và chủ nhật là ngày nghỉ, thứ hai 28/03 tôi cho là ngày mà Cơ quan CSĐT chuyển hồ sơ quan VKS, vậy mà hôm sau ngày 29/03/2011 VKS đã ra ngay văn bản số 157/VKS gửi cho Toà An nhân Dân Tỉnh Sóc Trăng về việc hoàn trả HSĐT bổ sung Vụ Ngô Hồng Phi. Với thời gian chỉ có 01 ngày làm việc sau khi nhận bản Kết luận điều tra vụ án bổ sung mà VKS đã trả lại hồ sơ cho Toà và giữ nguyên cáo trạng số 21 ngày 06/08/2010 (Bút lục 7262) và không trả lời khiếu nại của bị cáo Bích và của Luật sư bảo chữa cho bị cáo Bích, là có vi phạm tố tụng không?
4.4 Cáo trạng có nêu đến tháng 05 năm 2007 bị can Bích có ký 06 hợp đồng đào tạo nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ là hòan tòan không có căn cứ. Trong hồ sơ của vụ án hòan tòan không có một hợp đồng dạy nghề nào mà Bị cáo Bích đã ký với Trung Tâm Khuyến Công Tỉnh Sóc Trăng vào tháng 05/2007
4.5 Các Hợp đồng dạy nghề mà HTX Ngọc Bích ký với Trung Tâm Khuyến Công Tỉnh Sóc Trăng hoàn toàn là các HĐ dân sự, vậy các Cơ quan tố tụng đưa gần trăm học viên và các giáo viên dạy nghề vào vòng tố tụng có đúng không?

Việc ra Cáo trạng sai cùng với tất cả những điều nêu trên cho thấy các Cán bộ của các Cơ quan tố tụng như CQCSĐT và VKSND Tỉnh Sóc Trăng đã vi phạm nghiêm trọng về tố tụng, về Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự và có dấu hiệu vi phạm cả Luật hình sự, do đó hồ sơ vụ án do hai Cơ quan tố tụng nêu trên lập ra để truy tố bị cáo Huỳnh Ngọc Bích hòan tòan không chính xác, do không chính xác thì hòan tòan không thể xét xử được. Đề nghị Viện Kiểm Sát rút ngay Kháng nghị và có thể ra Quyết định Điều tra xét xử lại đối với bị cáo Huỳnh Ngọc Bích.

II. Luận cứ bào chữa cho bị cáo Hùynh Ngọc Bích:
Với tư cách là luật sư, qua hồ sơ vụ án tôi xin kiến nghị ý kiến của tôi đến Hội Đồng Xét Xử trong vụ án này như sau:
1. Theo hồ sơ của vụ án cho thấy Cán bộ Trung Tâm Khuyến Công Tỉnh Sóc Trăng là Nguyễn Thế Vương chủ động liên hệ với Chủ nhiệm Hợp Tác Xã Ngọc Bích  (Trang 6, dòng 18 của Cáo trạng) để ký kết 06 Hợp đồng dạy nghề. Do đó việc ký kết này là hòan tòan tự nguyện và đúng pháp luật về hợp đồng dân sự.
2. Bản Cáo trạng nêu đến tháng 05/2007 (Trang 6, dòng 22) bị can Bích ký 06 hợp đồng đào tạo nghề …là hòan tòan sai. Các hợp đồng mà bị cáo Bích ký với Trung Tâm Khuyến Công Tỉnh Sóc Trăng đều rơi vào tháng ba và tháng tư. Cụ thể như sau: Hợp đồng số 10/HĐ.KC.07 ký ngày 18/04/2007 (Bút lục 3910) thực hiện tại xã Vĩnh Châu. Hợp đồng số 02 HĐ.KC.07 ký ngày 18/03/2007 (Bút lục 3800) thực hiện tại xã Tham Đôn. Bốn Hợp đồng còn lại thực hiện tại Xã Gia Hòa 2 là các Hợp đồng số 03 HĐ.KC.07 ký ngày 02/04/2007 (Bút lục 3891), Hợp đồng số 05. HĐ.KC.07 ký ngày 02/04/2007 (Bút lục số 4908), Hợp đồng số 04 HĐ.KC.07 ký ngày 27/03/2007 (Bút lục 2849) và Hợp đồng số 06 HĐ.KC 07 ký ngày 02/04/2007 (Bút lục 5950).
3. Bản cáo trạng nêu bị can Bích ký 06 hợp đồng đào tạo …..nhưng bị can Bích chỉ thực hiện 01 hợp đồng đào tạo tại Huyện Vĩnh Châu, 05 Hợp đồng tại Huyện Mỹ Xuyên: chỉ tổ chức khai giảng 02 lớp ở xã Tham Đôn, Xã Gia Hòa 2 sau đó không có dạy, có 03 lớp không thực hiện là hòan tòan không đúng sự thật. Trên thực tế trong 05 Hợp đồng này thì 04 Hợp đồng được tổ chức tại Xã Gia Hòa 2, trong ngày khai giảng 02/04/2007 có sự tham dự của Ngô Hồng Phi, Nguyễn Quốc Trung, và Nguyễn Qúach Hồng Quyên (Cán bộ TTKC), Triệu Công Danh và Trương Văn Tiến (Cán bộ Huyện), Nguyễn Văn Hùm (Cán bộ Ap). Các giáo viên dạy lớp nghề ở Xã Gia Hòa 2 này là Lý Văn Võ, Trần Thị Hoa và Hùynh Ngọc Hận (Đính kem Bản sao có công chứng Đơn Xác Nhận của Công An địa phương về việc HTX TTCN Ngọc Bích có khai giảng lớp tại Xã Gia Hòa 2, cùng với danh sách học viên). Còn 01 Hợp đồng còn lại được tổ chức tại Xã Tham Đôn, trong ngày khai giảng 20/03/2007 có sự tham dự của Ngô Hồng Phi, Nguyễn Thế Vương và Nguyễn Quốc Trung (Cán bộ TTKC), Triệu Công Danh và Trương Văn Tiến (Cán bộ Huyện), Tăng Trung Bảo và Trần Văn Đặng (Cán bộ Xã), Các giáo viên dạy lớp nghề ở Xã Tham Đôn này là Danh Thị Hiền và Trần Văn Phụng (Đính kem Bản sao có công chứng Đơn Xác Nhận của Công An địa phương về việc HTX TTCN Ngọc Bích có khai giảng lớp tại Xã Tham Đôn, cùng với danh sách học viên và 01 đĩa CD). Cả hai ngày khai giảng nêu trên đều có Đài Truyền Hình của Tỉnh và của Huyện thu hình và đưa tin. Vào ngày 26/04/2011 Uỷ Ban Kiểm Tra của Liên Minh HTX Việt Nam đã ra Quyết định số 03/2011/QĐ-UBKTr về việc thành lập Đoàn công tác để kiểm tra, xác minh tại HTX Tiểu Thủ-Công Nghiệp Ngọc Bích, Huyện Mỹ Xuyên, Tỉnh Sóc Trăng về các Hợp đồng dạy nghề của HTX. Qua xác minh cho thấy HTX Ngọc Bích có thực hiện đẩy đủ các Hợp đồng nêu trên (Biên bản xác minh cũng đã nộp cho Tòa An).
4. Tổng số tiền theo 06 Hợp đồng nêu trên là 20.000.000 đồng, nhưng bị can Bích chỉ nhận có 19.500.000 đ và việc nhận số tiền này là hòan tòan hợp pháp. Hơn nữa với số tiền này bị can Bích đã chi cho các giáo viên tại các điểm dạy nghề nêu trên và việc Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra CA Tỉnh Sóc Trăng tạm giữ số tiền 17.600.000 đ là trái pháp luật. (Đính kèm Biên Bản Đại Hội Đại Biểu – Xã Viên HTX TTCN Ngọc Bích ngày 19/07/2010).
5. Việc Cáo trạng quy kết bị can Bích đóng dấu treo khống giúp Trung Tâm Khuyến Công thanh tóan khống là 57.070.000 đ (Trang 6, dòng 37 của Cáo trạng) là hòan tòan mang tính quy chụp. Các Phiếu Thu có đóng dấu treo này hòan tòan không có chứ ký của bị can Bích, và việc sử dụng các Phiếu thu này hòan tòan sai mục đích và trái pháp luật là trách nhiệm của các cán bộ Trung Tâm Khuyến Công. Do đo bị can Bích không có liên can gì với số tiền nêu trên.
6. Cũng cần lưu ý là HTX TTCN Ngọc Bích là một HTX điển hình của Tỉnh, và là một trong 100 HTX điển hình của cả nước (Theo Đài Tiếng Nói Việt Nam ngày 06/12/2010 đã đưa tin) đồng thời là một HTX làm ăn tốt đã tạo khá nhiều công ăn việc làm giúp hàng ngàn người lao động địa phương nhất là người lao động Khơ Me có việc làm ổn định tạo thêm thu nhập phụ giúp gia đình… Do đó HTX TTCN Ngọc Bích đã được các Bằng khen sau đây:
6.1 Giấy chứng nhận Hợp Tác Xã Điển Hình Tiến Tiến Tòan Quốc 5 năm (2005-2010) do Chủ Tịch Liên Minh Hợp Tác Xã Đào Xuân Cần ký (Đính kèm bản sao).
6.2 Bằng khen của Bộ Trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hòang ký tặng cho HTX TTCN Ngọc Bích đã có thành tích trong 05 năm là “tập thể điển hình tiên tiến từ năm 2005 – 2010” (Đính kèm bản sao).
6.3 Bằng khen do Chủ Tịch UBND Tỉnh Sóc Trăng Hùynh Thành Hiệp ký tặng HTX TTCN Ngọc Bích đạt thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước và Hội nghị Hợp tác xã điển hình tiên tiến Tỉnh Sóc Trăng lần 2 năm 2010 (Đính kèm bản sao).
6.4 Bằng khen do Chủ Tịch UBND Tỉnh Sóc Trăng Hùynh Thành Hiệp ký tặng Chủ nhiệm HTX TTCN Ngọc Bích đạt thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ năm 2005 (Đính kèm bản sao).

 Vì những lý do trên, nếu Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao không rút kháng nghị để tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Ngọc Bích, đề nghị HĐXX Toà An Nhân Dân Tối Cao tuyên bị cáo Huỳnh Ngọc Bích không phạm tội “tham ô tài sản” hoặc tạm đình chỉ vụ án để điều tra xét xử lại.

Người bào chữa,
Luật sư Thạc sỹ Ngô Hữu Nhị

Các tin đã đăng
TẮT NHẠC